Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

,

Thực chất của bản cam kết bảo vệ môi trường

Cam kết bảo vệ môi trường là công cụ ra đời từ lâu và được sử dụng lần đầu tiên trong luật bảo vệ môi trường 2005, tuy nhiên mục đích của công cụ này vấn chưa được hiểu rõ, dễ gây hiểu lầm , không đạt được sự thống nhất và chuẩn xác , điều này chắc chắn gây nên nhiều bất cập trong công tác thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường.
Từ lịch sử hình thành…

Khái niệm “Cam kết bảo vệ môi trường” được sử dụng để thay thế cho khái niệm “Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường” vốn được dùng trong thời kỳ đầu thực hiện Luật Bảo vệ Môi trường 1993. Theo các văn bản hướng dẫn dưới Luật Bảo vệ Môi trường 1993, tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện báo cáo đtm, tuy nhiên, với những dự án nhỏ, không phức tạp về môi trường thì chỉ cần thực hiện Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường để làm căn cứ cho việc xem xét và phê duyệt dự án.

Sở dĩ có sự ngoại lệ đối với các dự án nhỏ trong việc không phải thực hiện Đánh giá tác động môi trường mà thay vào đó là Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường là do việc thực thi Luật Bảo vệ Môi trường 1993 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, vì vậy một số thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa so với quy định ban đầu.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường sau một thời gian đã bộc lộ bất cập lớn liên quan đến hệ thống các Tiêu chuẩn môi trường. Hệ thống các Tiêu chuẩn môi trường ở Việt Nam khi đó chỉ có hai loại là Tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và Tiêu chuẩn về chất thải.

Vấn đề nằm ở chỗ trong khi các chủ dự án chỉ phải đăng ký đạt Tiêu chuẩn về chất thải thì tác động của một dự án đến môi trường không chỉ liên quan đến chất thải mà còn liên quan đến nhiều yếu tố khác như: xói mòn, sụt lở đất; sự thay đổi địa hình, dòng chảy, mực nước; sự xâm nhập mặn; sự mất cân bằng sinh thái, mất đa dạng sinh học… Điều đáng nói là tất cả những yếu tố này khi đó lại chưa có các Tiêu chuẩn môi trường tương ứng để xem xét, đánh giá. Vì thế, nhiều dự án không phù hợp để thực hiện Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hay nói cách khác, với những dự án gây ra các tác động dạng này, việc Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hầu như không có ý nghĩa.

Nhằm sửa đổi bất cập nêu trên, trong quá trình xây dựng Luật Bảo vệ Môi trường 2005, công cụ “Cam kết bảo vệ môi trường” đã được lựa chọn để thay thế cho công cụ “Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường”. Theo đó, trong bản Cam kết bảo vệ môi trường, chủ dự án phải cam kết đã nhận dạng và dự báo được hết những tác động do chất thải và do các yếu tố không liên quan đến chất thải, đồng thời cam kết thực hiện việc loại trừ hoặc giảm thiểu tất cả các tác động tiêu cực do dự án gây ra.

Dù khác nhau về tên gọi, song khái niệm “Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường” hay “Cam kết bảo vệ môi trường” thực chất đều là dạng đơn giản của Đánh giá tác động môi trường và đều chỉ áp dụng đối với các dự án chứ không áp dụng với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hiện đang hoạt động.


Cam kết bảo vệ môi trường thực chất chỉ là dạng đơn giản của báo cáo đtm

… Đến những bất cập trong thực thi

Những bất cập trong công tác thực thi pháp luật về Cam kết bảo vệ môi trường xuất phát từ chính việc hiểu sai lệch về bản chất của công cụ này.

Bất cập đầu tiên liên quan đến việc xác định đối tượng phải thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường. Như trên đã nêu, Cam kết bảo vệ môi trường thực chất là dạng đơn giản của báo cáo đtm, vì vậy đối tượng phải thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường phải là một dự án (có quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình), vị trí của Cam kết bảo vệ môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội cũng chính là vị trí của Đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, theo cách viết tại Điều 24 Luật Bảo vệ Môi trường 2005, nhiều tổ chức, cá nhân đã và đang hiểu cam kết bảo vệ môi trường áp dụng cả với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình. Mặt khác, các văn bản quy phạm hiện hành cũng không quy định rõ thế nào là một dự án hay một cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình. Hệ quả là quá nhiều đối tượng phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường một cách không đúng và không cần thiết.

Thứ hai, theo Luật Bảo vệ Môi trường 1993, việc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chỉ được thực hiện ở cấp Trung ương và cấp tỉnh. Tới năm 2005, khi Luật Bảo vệ Môi trường được phê duyệt, cấp huyện mới chính thức được giao trách nhiệm quản lý về bảo vệ môi trường tại địa phương. Điều này cũng có nghĩa là trước và trong khi xây dựng Luật Bảo vệ Môi trường 2005, cấp huyện chưa có trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, do đó cũng chưa có cơ quan chuyên môn trực thuộc để giúp thực hiện trách nhiệm này. Vậy nhưng Luật Bảo vệ Môi trường 2005 đã giao luôn trách nhiệm cho cấp huyện xác nhận (phê duyệt) bản Cam kết bảo vệ môi trường và tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường.

Điều đáng nói là ngay sau thời điểm Luật Bảo vệ Môi trường 2005 được thông qua, cơ quan chuyên môn (Phòng Tài nguyên và Môi trường) giúp việc cho ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực môi trường hầu như chưa có cán bộ chuyên môn phụ trách. Thậm chí, đội ngũ cán bộ về môi trường hiện tại ở cấp huyện cũng còn rất thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Tại không ít nơi, cấp huyện còn chưa có cán bộ được đào tạo chính quy về môi trường nói chung, về Đánh giá tác động môi trường nói riêng. Một số cấp huyện khác tuy có cán bộ được đào tạo về môi trường nhưng chưa hoặc rất ít được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ về Đánh giá tác động môi trường cũng như Cam kết bảo vệ môi trường. Hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường.

Chất lượng phê duyệt cũng bị hạn chế bởi yếu tố về thời gian. Luật Bảo vệ Môi trường 2005 quy định thời gian xem xét và xác nhận (phê duyệt) bản Cam kết bảo vệ môi trường chỉ diễn ra trong 05 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ, trong khi văn bản này là một dạng đơn giản của báo cáo Đánh giá tác động môi trường, vì vậy việc xem xét và xác nhận bản Cam kết bảo vệ môi trường khó có thể hoàn thành trong một thời gian ngắn, nhất là với một năng lưc hạn chế. Và giả như ủy ban nhân dân cấp huyện có đủ năng lực cần thiết để xem xét, phê duyệt thì thời hạn 05 ngày cũng khó khả thi do phải trải qua nhiều khâu xử lý khác như: tiếp nhận, chuyển giao, nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra hiện trường dự án, thậm chí nhiều khi phải mời chuyên gia tư vấn hỗ trợ.

Ngoài những điểm bất cập nêu trên, việc thiếu các điều kiện cần thiết để xem xét và xác nhận bản Cam kết bảo vệ môi trường cũng là điều đáng quan ngại. Bởi dù muốn hay không, việc xem xét và xác nhận văn bản này cũng cần phải có những điều kiện tối thiểu như: kinh phí để đi khảo sát hiện trường, thuê chuyên gia tư vấn, mua máy móc, thiết bị… Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có quy định về các định mức kinh phí dạng này nên cấp huyện không có căn cứ để thực hiện.

Một số gợi ý và đề xuất

Cũng do xuất phát từ cách hiểu sai lệch về bản chất của Cam kết bảo vệ môi trường nên thời gian gần đây, một số ý kiến khi góp ý cho Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi đã đề xuất bỏ hình thức lập bản Cam kết bảo vệ môi trường mà thay vào đó là lập Kế hoạch bảo vệ môi trường. Dự thảo 5 Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi cũng đã hiện thực hóa sự thay đổi này. Tuy nhiên, việc thay thế như vậy hoàn toàn không thỏa đáng bởi tính chất hai phạm trù “Cam kết bảo vệ môi trường” và “Kế hoạch bảo vệ môi trường” rất khác nhau.

Theo Dự thảo số 5, Kế hoạch bảo vệ môi trường được đưa ra nhằm áp dụng đối với tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bất kể trước đó cơ sở này đã thực hiện thủ tục Đánh giá tác động môi trường hay Cam kết bảo vệ môi trường hay chưa. Công cụ này nên được ủng hộ vì một mặt, nó là căn cứ để chủ cơ sở thực hiện công tác bảo vệ môi trường, mặt khác nó là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thanh, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường cũng như kiểm toán môi trường. Tuy nhiên, cần lưu ý xây dựng nội dung Kế hoạch bảo vệ môi trường sao cho rõ ràng, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Đặc biệt, không nên lấy công cụ này để thay thế cho Cam kết bảo vệ môi trường bởi xét về cả vị trí, tính chất, mục đích, hai công cụ hoàn toàn khác nhau.

Xét về vị trí trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, Cam kết bảo vệ môi trường nằm ở giai đoạn dự án, trong khi Kế hoạch bảo vệ môi trường được áp dụng ở giai đoạn hoạt động, vận hành. Về tính chất, Cam kết bảo vệ môi trường là kết quả của quá trình Đánh giá tác động môi trường, tức mang tính dự báo, còn Kế hoạch bảo vệ môi trường là kết quả của việc tính toán thực tế đối với một cơ sở, ở đây không còn yếu tố dự báo nữa. Về mục đích, Cam kết bảo vệ môi trường là căn cứ để quyết định, phê duyệt một dự án hoặc một đề xuất đầu tư, còn Kế hoạch bảo vệ môi trường là căn cứ để quản lý và thực hiện các nội dung về bảo vệ môi trường đối với một cơ sở.

Tuy không nên thay thế nhưng cũng không nên hoàn toàn loại bỏ Cam kết bảo vệ môi trường, bởi việc xóa bỏ công cụ này sẽ làm mất đi một công cụ dự báo hữu ích trong việc xem xét, quyết định một dự án hoặc đề xuất phát triển, tức chúng ta mất đi cách tiếp cận phòng ngừa hữu hiệu trong bảo vệ môi trường. Thêm nữa, việc loại bỏ Cam kết bảo vệ môi trường cũng sẽ làm mất đi cơ hội đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên môn ở các cấp, đặc biệt là cấp xã, huyện về các vấn đề môi trường.

Không thay thế, không bãi bỏ mà nên giữ nguyên. Nhưng để việc thực thi Cam kết bảo vệ môi trường đạt hiệu quả như mong muốn, thiết nghĩ, trước tiên, cần phải nhận thức rõ ràng rằng Cam kết bảo vệ môi trường là một loại hình đơn giản của Đánh giá tác động môi trường (khái niệm này chỉ có ở Việt Nam), được dùng để áp dụng đối với một dự án hoặc một đề xuất về đầu tư quy mô nhỏ và là một công cụ phòng ngừa hữu hiệu trong bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, cần thay đổi việc phân cấp trong xác nhận (phê duyệt) bản Cam kết bảo vệ môi trường. Trước mắt, khi cấp huyện và cấp xã chưa có đủ năng lực cần thiết thì việc xem xét và xác nhận bản Cam kết bảo vệ môi trường nên được thực hiện tại cả bốn cấp: cấp Trung ương (Bộ Tài nguyên và Môi trường) sẽ thực hiện phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những dự án (quy mô nhỏ) có địa điểm thuộc quyền quản lý từ hai cấp tỉnh trở lên; cấp tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi trường) phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những dự án có địa điểm thuộc quyền quản lý từ hai cấp huyện trở lên; cấp huyện (Phòng Tài nguyên và Môi trường) phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những dự án có địa điểm thuộc quyền quản lý của một cấp huyện, những đề xuất đầu tư quy mô hộ gia đình có địa điểm thuộc quyền quản lý từ hai cấp xã trở lên; cấp xã phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những đề xuất đầu tư quy mô hộ gia đình có địa điểm thuộc quyền quản lý của 01 cấp xã.

Song song với đó, cần đẩy mạnh việc xây dựng và tăng cường năng lực cũng như tạo các điều kiện cần thiết về quản lý môi trường cho cả bốn cấp, đặc biệt là cấp huyện và cấp xã.

Đặc biệt, để thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế nhưng vẫn đảm bảo được tính đặc thù của Việt Nam, đồng thời tránh những hiểu lầm sai lệch về bản chất của Cam kết bảo vệ môi trường, nên thay cụm từ “Bản Cam kết bảo vệ môi trường” bằng Bản giải trình tác động môi trường (áp dụng đối với những dự án không thuộc đối tượng phải Đánh giá tác động môi trường, có thể nâng cấp quy mô dự án lớn hơn quy mô phải thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường như hiện tại) và Bản kê khai tác động môi trường (đơn giản hơn Bản giải trình tác động môi trường, áp dụng đối với những để xuất về đầu tư quy mô hộ gia đình có gây tác động đến môi trường) nhưng cần quy định rõ: Thế nào là một đề xuất đầu tư quy mô hộ gia đình?

Có thể “khoác” lên mình nhiều khái niệm qua mỗi một thời kỳ, giai đoạn, song dù là Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường (trước đây) hay Cam kết bảo vệ môi trường (hiện tại) hay bản Giải trình tác động môi trường và bản Kê khai tác động môi trường (theo đề xuất) thì tất cả đều là dạng đơn giản của báo cáo Đánh giá tác động môi trường.
Publisher: Trần Chung - 01:43

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

ĐTM phải được lập lại nếu dự án chậm triển khai 2 năm

Dự án luật sửa đổi đã được quốc hội biểu quyết thông qua luật bảo vệ môi trường có sửa đổi vào chiều nay ngày 23/6, có bổ sung thêm một số điều của luật thi hành án dân sự.
Luật vừa được thông qua gồm 20 chương, 170 điều có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 được xếp vào dự luật bảo vệ môi trường có sửa đổi.


Đáng chú ý, luật quy định, quy hoạch bảo vệ môi trường phải bảo đảm các nguyên tắc sau: Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia bảo đảm phát triển bền vững; Bảo đảm thống nhất với quy hoạch sử dụng đất; thống nhất giữa các nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ môi trường; Bảo đảm nguyên tắc bảo vệ môi trường.

Quy hoạch bảo vệ môi trường gồm 2 cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Kỳ quy hoạch bảo vệ môi trường là 10 năm, tầm nhìn đến 20 năm.

Theo luật, đối tượng phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược gồm: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế - xã hội, vùng kinh tế trọng điểm, hành lang kinh tế, vành đai kinh tế; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; Chiến lược, quy hoạch phát triển khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghiệp; Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực quy mô quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh có tác động lớn đến môi trường; Chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên quy mô từ 2 tỉnh trở lên…

Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường gồm: Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng; Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường.

Chủ dự án phải lập lại DTM nếu không triển khai dự án trong thời gian 24 tháng, kể từ thời điểm quyết định phê duyệt DTM; Thay đổi địa điểm thực hiện dự án so với phương án trong DTM đã được phê duyệt; Tăng quy mô, công suất, thay đổi công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong DTM đã được phê duyệt.






Về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, luật quy định cấm nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường hoặc đã qua sử dụng để phá dỡ; nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hóa chất, hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu; máy móc, thiết bị, phương tiện bị nhiễm chất phóng xạ, vi trùng gây bệnh, chất độc khác chưa được tẩy rửa hoặc không có khả năng làm sạch; thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc không bảo đảm quy định về an toàn thực phẩm; thuốc, nguyên liệu làm thuốc sử dụng cho người, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật hết hạn sử dụng hoặc không đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Riêng việc nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, điều kiện được phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng.

Cũng theo luật, các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật và đưa vào danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng kèm theo biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường. Việc rà soát, phát hiện cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tiến hành hằng năm.

* Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, đa số các đại biểu nhất trí với các nội dung sửa đổi như trong tờ trình của Chính phủ.

Về miễn, giảm án thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, một số ý kiến đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc thu hẹp hơn nữa phạm vi đối tượng, theo đó, không nên quy định trường hợp không xác định được địa chỉ, nơi sinh sống và không xác định được tài sản của người phải thi hành án cũng thuộc diện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Quy định này sẽ hạn chế việc lợi dụng chính sách miễn, giảm để chây ỳ, che giấu tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

Liên quan đến các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Tòa án nhân dân (TAND), các đại biểu cho rằng, việc bổ sung các quy định nhằm giải quyết các vấn đề vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự giữa cơ quan thi hành án dân sự và TAND. Tuy nhiên, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết của TAND đối với tài sản trong quá trình thi hành án phải bảo đảm thống nhất với quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc chung theo quy định của Bộ luật dân sự và các luật liên quan. Do đó, cơ quan soạn thảo cần rà soát kỹ hơn nữa các nội dung này để bảo đảm tính khả thi, xác định rõ trách nhiệm từng cơ quan (bao gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại), tránh quy định chung chung hoặc không đúng thẩm quyền, gây khó khăn trong quá trình triển khai thi hành Luật.
Publisher: Trần Chung - 01:37

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Thành phố Hải Phòng sẽ không còn chỗ nào để người dân thở nếu cảng Lạch Huyện được xây dựng với vốn đầu tư lên tới 2 tỉ USD, tương đương 40.000 tỉ đồng, nếu nhìn xa thì sẽ ảnh hưởng toàn diện đến sự tăng trưởng kinh tế của cực phát triển.

Thời gian qua, dư luận tỏ ra quan ngại về việc xây dựng cảng nước sâu Lạch Huyện (Hải Phòng) bởi vừa không có hiệu quả kinh tế lại vừa tác động lớn đến môi trường sinh thái.

Những dấu hiệu bất thường

Dự án đầu tư xây dựng công trình cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng giai đoạn khởi động có 2 hợp phần: Hợp phần A (luồng tàu, vũng quay tàu, đê chắn sóng, đê chắn cát, đường ngoài cảng) do Cục Hàng hải làm chủ đầu tư và hợp phần B (cầu cảng, đường bãi, thiết bị trong cảng) do liên doanh giữa Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam và đối tác Nhật Bản - Công ty Molnykit đại diện.

Hội Xây dựng trực thuộc Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) là tổ chức đầu tiên quan tâm phản biện dự án cảng Lạch Huyện. Trong quá trình tham vấn, lãnh đạo Bộ GTVT 4 lần thúc ép, thuyết phục lãnh đạo Hội Xây dựng ký công văn xác định cảng Lạch Huyện là công trình “cấp bách” (!?). Gần đây, lãnh đạo Trung ương MTTQ Việt Nam dự định tổ chức hội thảo về cảng Lạch Huyện theo đúng chức năng giám sát và phản biện nhưng Bộ trưởng Bộ GTVT lại khuyến cáo “không nên làm” (!).

Các nhà khoa học trong một chuyến thị sát vị trí dự kiến xây cảng Lạch Huyện. Ảnh: TRỌNG ĐỨC

Báo cáo tác động môi trường  chưa được Hội đồng Thẩm định đánh giá phê duyệt, Bộ GTVT đã “phạm quy” cho mở gói thầu số 6: Đê chắn sóng đoạn A, kè bảo vệ bờ, tường chắn đất, tôn tạo xử lý nền, bến công vụ, đường sau cảng, hạ tầng điện nước. Thiết kế do các đơn vị tư vấn bao gồm các công ty: Oriental Consultants, Nippon Kei, Padeco, Japan Bridge & Structure Institute, Inc.

Đơn vị thẩm tra: Công ty CP Tư vấn Thiết kế Cảng - Kỹ thuật biển (Portcoast). Có thể nói, chưa có hội đồng nào liên quan đến báo cáo đánh giá tác động môi trường lại phải trải qua 2 phiên họp kỹ thuật, một đợt đi khảo sát thực địa nhưng đến phiên họp thẩm định chính thức ngày 15-1 vừa qua vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về dự án nhạy cảm, phức tạp nói trên. Hội đồng làm việc nghiêm túc, đúng theo quy trình, kết quả bỏ phiếu 68% tán thành thông qua nhưng phải sửa chữa bổ sung khoảng 20 điểm (chưa kể các góp ý chi tiết của từng thành viên hội đồng).

Theo thông lệ, các hội đồng báo cáo đánh giá tác động môi trường thường 100% đồng ý thông qua có sửa chữa và chủ đầu tư khi nộp lại báo cáo chỉ cần thông qua chủ tịch hội đồng và 2 phản biện là đủ nhưng lần này thì báo cáo chỉnh sửa phải được toàn thể hội đồng họp kỳ tới, nếu hội đồng chấp nhận thì Bộ Tài nguyên - Môi trường mới ra quyết định phê chuẩn báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Nhiều sai lầm “chết người”
Trong phạm vi bài báo này, tôi chỉ điểm lại một số ý kiến chính của các thành viên hội đồng. Việc lựa chọn vị trí Lạch Huyện (một lạch thủy triều xưa) làm tiền cảng nước sâu của cụm cảng Hải Phòng mà không phải là cửa Nam Triệu và Đình Vũ chắc chắn sẽ vấp phải sai lầm về mặt chiến lược. Các bài học sử dụng 5 cửa sông chính đổ ra biển từ mảnh đất Hải Phòng trong 20-30 năm qua đã cho thấy những thất bại của sự can thiệp bởi con người đối với dải đất ven biển giàu tiềm năng này.

Bắt đầu từ hiện tượng nông hóa và bồi lấp không còn khái niệm cửa sông Thái Bình theo đúng nghĩa của nó, đến đắp đập Đình Vũ (năm 1978) lấp cửa sông Cấm - một trong những cửa luồng chính vào cảng Hải Phòng gây sa bồi nghiêm trọng đối với vùng cửa Nam Triệu - luồng chính vào cảng Hải Phòng hiện nay và làm thay đổi toàn cảnh bức tranh phân bố phù sa trong diện rộng của vùng cửa sông hình phễu Bạch Đằng (từ Bắc Đồ Sơn đến Lạch Huyện).

Cửa Nam Triệu (cửa mở chính của hệ cửa sông hình phễu Bạch Đằng) bị sa bồi nông dần, đến nay chỉ còn sâu 2,5-2,7 m, sẽ rất khó khăn cho tàu thuyền qua lại, đặc biệt là tàu trọng tải lớn, ảnh hưởng lớn đến vị thế của TP biển Hải Phòng. Gần 150 năm về trước, nhà địa lý hàng hải người Pháp Gouru trong một chuyến khảo sát luồng lạch đã cắm sào và không lầm lẫn khi nói rằng nơi đây (bến Ninh Hải xưa) chính là địa điểm đẹp nhất để làm cảng nước sâu ở phía Bắc châu thổ sông Hồng và Bắc Việt Nam. Bức tranh ảm đạm về sa bồi vùng cảng Hải Phòng do các sai lầm về khai thác, sử dụng không hợp lý và quản lý phát triển thiếu hiệu quả dải đất ven biển này gây ra mà những bài học thất bại nhãn tiền của nó chưa được cân nhắc cho việc chọn vị trí tiền cảng nước sâu của hệ thống cảng Hải Phòng hiện giờ.

Kéo theo sai lầm nói trên đáng lẽ cần nói cả về tác động kinh tế khi phải tốn kém xây dựng một loạt công trình phụ trợ cho cảng này bằng ngân sách Nhà nước và vốn vay ODA (đường, công trình…). Cách làm này vẫn là để giải quyết tình thế như đã nói trên: lấp cửa Cấm thì đi cửa Nam Triệu, mất cửa Nam Triệu thì đào kênh Cái Tráp, hỏng kênh Cái Tráp thì đào kênh Hà Nam hiện nay và Lạch Huyện 20 năm nữa sẽ lặp lại bài học nói trên. Khi đó, TP Hải Phòng không còn “lỗ mũi” nào để thở và cái thế “cửa ngõ hướng biển” sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, ảnh hưởng toàn diện đến tăng trưởng kinh tế của một “cực phát triển” trong bình đồ tổ chức lãnh thổ duyên hải mang tầm chiến lược của đất nước.

Chất lượng quy hoạch cảng (dự báo lượng hàng) cũng đang là dấu hỏi lớn. Dự án đầu tư xây dựng công trình cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng - giai đoạn khởi động - là dự án rất lớn (hàng tỉ USD) trong bối cảnh đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế thì việc gấp rút triển khai liệu có hợp lý hay không? Trong khi đó, việc vận chuyển hàng của các công ty vận tải lớn của chúng ta trong giai đoạn này đang gặp nhiều khó khăn, nhiều tàu chở hàng loại lớn bị bỏ hoang cả trong nước và nước ngoài, không có lương cho thủy thủ...

Tác động của việc nạo vét 40 triệu m3 bùn cát (kể cả thành phần kim loại nặng) đến môi trường xung quanh và phương án đổ ra biển chưa thuyết phục. Báo cáo chưa đề cập vấn đề đổ thải ở vị trí khác. Báo cáo hoàn toàn thiếu các biện pháp giảm thiểu tác động xấu do dự án đối với Vườn Quốc gia Cát Bà, Khu Bảo tồn biển, Khu Dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà - Long Châu, Khu Di sản Thiên nhiên thế giới Cát Bà, các bãi tắm...

Mô hình đã không tính tới bùn cát từ sông ra biển và tác động của dòng chảy sông trong đoạn sông nhân tạo mới hình thành do xây dựng cảng + đê chắn sóng + đê chắn cát cùng nạo vét sâu lòng dẫn thành luồng tàu...

Tư vấn sử dụng phần mềm IDEA (chưa được kiểm nghiệm ở Việt Nam) tính toán dòng chảy và bùn cát 3 chiều nhưng kỹ thuật tính toán chưa tiên tiến. Lưới tính theo phương ngang vuông góc không mô phỏng tốt khu vực gần bờ. Lưới tính theo phương đứng không đúng phép biến hình nên các lớp lưới cũng nằm ngang một cách cứng nhắc dẫn đến vùng sát đáy cũng như vùng sát mặt nước mô phỏng không tốt. Tài liệu cơ bản đầu vào không chuẩn xác, không đưa ra được kết quả hiệu chỉnh bộ thông số và bộ thông số mô hình đã hiệu chỉnh. Các kết quả mô phỏng sai nhiều so với các số liệu thực đo.
Publisher: Trần Chung - 22:59

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Còn nhiều vấn đề trong đánh giá tác động môi trường

Với sự tham gia của đại diện 63 tỉnh thành trong cả nước , rạng sáng ngày 20/9 ở Hà Nội, Bộ TNMT đã tổ chức hội nghị quốc gia về đánh giá tác động môi trường , đánh giá tác động môi trường chiến lược, cam kết bảo vệ môi trường.
Ông Mai Thế Toản, Phó Cục trưởng Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường (Bộ TN&MT) cho biết: “Việc thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐMT) vẫn còn nhiều bất cập: Còn nhiều dự án bỏ qua bước báo cáo đánh giá tác động môi trường, chưa tiến hành lập hồ sơ hoạt động sau ĐTM hoặc có những dự án thực hiện ĐTM cho có. Đặc biệt, nhiều trường hợp chủ dự án giao khoán, phó mặc cho bên tư vấn môi trường thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường, nên nội dung tư vấn đưa ra trong báo cáo ĐTM không thống nhất, thậm chí không phù hợp với nội dung của dự án…”.

Theo đánh giá của các địa phương, nhiều quy định hiện hành còn bất cập, dẫn đến công tác ĐTM gặp khó khăn. Như theo Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được phép tiến hành sau khi xin giấy phép xây dựng đã làm giảm nhiều ý nghĩa của ĐTM, hầu hết các dự án đều thực hiện ĐTM sau khi đã được cấp phép, chọn địa điểm thực hiện dự án nên ý nghĩa của việc xem xét tính phù hợp về môi trường của dự án để cho phép đầu tư hay không sẽ không còn.

Ngoài ra, công tác tham vấn cộng đồng trong quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường còn mang tính hình thức, dẫn đến tình trạng khi các dự án đi vào hoạt động phát sinh khiếu nại, bức xúc trong cộng đồng.

Trước những bất cập đó, Thứ trưởng Bộ TN&MT Bùi Cách Tuyến cho biết, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản pháo luật, sớm ban hành văn bản quy định liên quan. Hoàn thiện hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và hệ thống thông tin, dữ liệu về môi trường…
Publisher: Trần Chung - 07:09

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Xử phạt công ty gỗ gây ô nhiễm



Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông vừa có quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản đối Công ty Cổ phần kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt.
Theo Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hoàng Duy Chuyển, công ty MDF Long Việt bị phạt hành chính 150 triệu đồng, do Công ty chưa hoàn thiện hệ thống xử lý chất thải theo cam kết nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.

Trước đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông cũng yêu cầu Công ty Cổ phần kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt thực hiện khẩn trương một số biện pháp như: lấp các điểm xả thải nước thải ra hàng rào, trừ điểm thoát nước mưa; không thải chất thải vượt quy chuẩn môi trường ra nguồn tiếp nhận và có trách nhiệm khắc phục các tác động đến môi trường do chất thải của công ty phát sinh; xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải, khí thải theo như công ty đã cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường; trong thời gian xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn, công ty phải có giải pháp quản lý và xử lý nước thải phù hợp để đảm bảo tuyệt đối các hồ lưu trữ nước không được chảy tràn ra ngoài môi trường tiếp nhận...

Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông cũng giao trách nhiệm cho các cơ quan chức năng tỉnh và chính quyền huyện Đắk Song tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường của Công ty Cổ phần kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt.

Thời gian qua, hàng trăm hộ dân ở xã Thuận Hạnh - huyện Đắk Song (Đắk Nông) nơi đặt nhà máy sản xuất gỗ của Công ty Cổ phần kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt đã gửi đơn khiếu nại, kiến nghị  nhiều nơi về tình trạng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của nhà máy nhưng vẫn không được giải quyết.

Theo phản ánh, nhà của người dân bị bụi bám dày, mặt đất màu đỏ biến thành màu trắng do bụi của nhà máy thải ra; cây trồng như cà phê, rau màu nhiễm bụi nên giảm năng suất mạnh. Do ảnh hưởng của bụi, nhiều người dân bị mắc bệnh về đường hô hấp.

Ngoài ra, nhà máy còn xả nước thải không qua xử lý ra môi trường và khu dân cư; nước chảy tràn ra đường, xuống suối ao hồ, vào nhà dân. Nhưng đã hơn 4 năm, tình trạng ô nhiễm do nhà máy này gây ra vẫn không giảm, bụi và nước thải không qua xử lý ngày càng nhiều hơn, gây ảnh hưởng đến đời sống người dân nơi đây.
Publisher: Unknown - 19:24