Hiển thị các bài đăng có nhãn cam kết bảo vệ môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cam kết bảo vệ môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

,

Hộ kinh doanh được hướng dẫn để lập kế hoạch bảo vệ môi trường

Kể từ nay các hộ gia đình ở tỉnh Bắc Giang sẽ được chính quyền hướng dẫn thủ tục lập cam kết bảo vệ môi trường đối với các hộ kinh doanh sản xuất rượu theo phương pháp cổ truyền và đã được cấp thẩm quyền phê duyệt nhờ công sức của ông Nguyễn Văn Đăng.
Ông Đăng đang triển khai một dự án với các đặc điểm sau: Chủ đầu tư là hộ gia đình (có đăng ký kinh doanh); Sản phẩm: Sản xuất rượu theo phương pháp cổ truyền (cơm lên men, chưng cất); Công suất khoảng 30.000 lít rượu/năm; Tổng mức đầu tư: 1,2 tỷ đồng; Diện tích xin thuê đất: 600m2, đất nằm trong quy hoạch sản xuất kinh doanh rượu đã được UBND tỉnh phê duyệt.

Theo quy định của Luật Đầu tư thì dự án của ông Đăng không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư. Ông Đăng có lập dự án, đề nghị và được ủy ban nhân dân tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

Ông Đăng muốn biết, theo Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường và Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP thì Dự án của ông phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường theo mẫu 5.3 (đối với đề xuất hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư) hay theo mẫu 5.2 (đối với dự án đầu tư) ?


Bộ TN&MT trả lời vấn đề ông Đăng hỏi như sau:


Theo quy định tại Nghị định số 29/2011/NĐ-CP và Điều 45, 46 Thông tư số 26/2011/TT-Bộ Tài Nguyên & Môi Trường, dự án của ông Đăng thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường (mẫu cam kết bảo vệ môi trường quy định tại Phụ lục 5.2 Thông tư số 26/2011/TT-Bộ TNMT).

Trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 thay thế Nghị định số 29/2011/NĐ-CP nêu trên, trong đó có quy định các nội dung liên quan đến vấn đề ông Đăng cần giải đáp.


Bộ TN&MT cũng đã ban hành Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, trong đó bao gồm mẫu bản kế hoạch bảo vệ môi trường (thay thế cam kết bảo vệ môi trường).
Publisher: Trần Chung - 01:19

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

,

Đất bí thư huyện đang bị xây xưởng trái phép

Chính quyền xã An Chấn bắt tay với vợ bí thư huyện ủy Tuy An, Tỉnh Phú Yên , chứng thực hợp đồng cho thuê đất sai quy định.
Công ty TNHH Long Việt bắt buộc phải ngừng ngay mọi hoạt động sản xuất cơ sở chế biến hạt điều ở xã An Chấn vào ngày 10-6 , ông Nguyễn Phụng Ngoan - và chủ tịch UBND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên là người đã ký, tổ chức tháo dỡ trước ngày 30-6; đồng thời yêu cầu UBND xã tổ chức kiểm điểm tập thể, cá nhân liên quan trong công tác quản lý đất đai, xây dựng, môi trường khi để xảy ra sai phạm của công ty này trên địa bàn.

Trước đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên đã có văn bản chỉ đạo UBND huyện Tuy An trước ngày 30-5 phải xử lý xong vi phạm của Công ty Long Việt và chính quyền xã An Chấn.


Đến ngày 10-6, xưởng hạt điều xây dựng sai quy định trên đất bí thư huyện vẫn hoạt động bình thường

Theo kết quả kiểm tra của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên, ngày 24-10-2011, UBND huyện Tuy An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Hoàng Sang, Bí thư Huyện ủy Tuy An và vợ là bà Nguyễn Thị Kim Mai với diện tích 764 m2 ở thôn Phú Quý, xã An Chấn. Mảnh đất này nằm trong quy hoạch khu dân cư, trong đó 208 m2 thuộc hành lang giao thông.

Sau khi được cấp giấy chứng nhận, bà Mai đứng tên ký hợp đồng cho Công ty Long Việt thuê mở xưởng bóc tách hạt điều, thời hạn 5 năm. Ngày 29-12-2014, ông Nguyễn Văn Hồng, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã An Chấn (em ruột bà Mai), ký chứng thực hợp đồng. Đầu năm 2015, Công ty Long Việt xây dựng xưởng hạt điều. Điều đáng nói là nhà xưởng này tồn tại trên cả phần đất thuộc hành lang giao thông và lấn chiếm 154 m2 diện tích đất nông nghiệp do xã quản lý.

Qua kiểm tra, ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên khẳng định việc bà Mai ký hợp đồng cho thuê diện tích đất nằm trong quy hoạch và việc UBND xã An Chấn ký chứng thực hợp đồng thuê đất là không đúng quy định pháp luật. Công ty Long Việt xây dựng nhà xưởng trên phần đất lộ giới là trái phép.

Sai phạm của chính quyền xã An Chấn đã được chỉ rõ nhưng trong vụ việc này còn có trách nhiệm của UBND huyện Tuy An. Dù biết việc xây dựng không đúng quy hoạch nhưng ngày 15-1-2015, UBND huyện Tuy An vẫn ra thông báo chấp nhận bản cam kết bảo vệ môi trường của dự án xưởng bóc tách hạt điều. “Cái này anh em không nắm được, cứ nghĩ xác nhận cam kết môi trường để công ty xin giấy phép xây dựng thôi nhưng rồi công ty cũng chẳng xin giấy phép xây dựng nữa” - ông Nguyễn Phụng Ngoạn phân trần.

Trong khi đó, ông Lê Hoàng Sang, Bí thư Huyện ủy Tuy An, cho rằng không hay biết việc vợ mình ký hợp đồng cho thuê đất xây dựng xưởng hạt điều sai quy định (?!). “Sau khi tỉnh, huyện có ý kiến về những sai phạm của xưởng hạt điều này, tôi bảo bà ấy hủy hợp đồng. Tôi cũng gặp riêng, đề nghị Công ty Long Việt tháo dỡ nhà xưởng, vợ tôi sẽ trả lại đủ tiền thuê đất” - ông Sang thanh minh.

Dù UBND huyện Tuy An đã yêu cầu Công ty Long Việt dừng ngay hoạt động nhưng đến ngày 10-6, bên trong xưởng hạt điều, hoạt động sản xuất vẫn tiếp diễn. Ông Ngoạn cho rằng đã giao UBND xã An Chấn kiểm tra nhưng thực tế thì xưởng này vẫn hoạt động ngay trong khu dân cư.

Tìm kiếm bài viết :

- cam ket bao ve moi truong xay dung xuong
- lap cam ket bao ve moi truong xuong san xuat
Publisher: Trần Chung - 01:15

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

,

Cam kết bảo vệ môi trường từng được quản lý tòa nhà The Garden thực hiện

Sau vụ việc người dân và nhiều nhân viên tại Big C The Garden bị ngạt khí ngay tại siêu thị Big C thì vào chiều ngày 17/3 tại cuộc họp báo định kỳ do UBND thành phố Hà Nội tổ chức, công an quận Nam Từ Liêm , đại diện UBND quận Nam Từ Liêm, đại diện ban lãnh đạo Big C đã có thông tin cụ thể , giải trình nguyên nhân vụ việc này.


Ông Nguyễn Trọng Lượng - Phó Chủ tịch UBND quận Nam Từ Liêm cung cấp thông tin tại cuộc họp báo.

Theo đó, vụ việc xảy ra vào ngày 14/3 tại tầng 1 Trung tâm thương mại The Garden có tổ chức sự kiện giao lưu người hâm mộ với các diễn viên trong đoàn làm phim Tuổi thanh xuân. Do đó, lượng khách hàng tham quan, mua sắm, giao lưu tăng đột biến. Do đó lượng xe gửi tại tầng hầm B2, B3 tăng gấp 5 lần so với bình thường.

Đến 17h30 cùng ngày. Khi sự kiện giao lưu kết thúc nhiều khách hàng ra về dẫn tới tình trạng số phương tiện ùn ứ, tắc nghẽn tại cửa ra vào của tầng hầm B1. Trong lúc chờ ra cửa soát vé các phương tiện vẫn nổ máy.

Sau đó có tình trạng khoảng 20 nhân viên của siêu thị Big C và người dân xuất hiện tình trạng đâu đầu, khó thở, buồn nôn và ngất xỉu. Những người này được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện 198 của Bộ Công an.

Ngay trong đêm 14/3, rạng sáng ngày 15/3, toàn bộ số bệnh nhân trên đã được xuất viện. Hiện nay tình trạng sức khỏe đã ổn định.

Siêu thị Big C The Garden thuê diện tích mặt bằng tại tầng hầm B1 tòa nhà của Công ty cổ phần quản lý bất động sản Bình Minh Thăng Long - là đơn vị quản lý, vận hành và sử dụng Trung tâm thương mại The Garden.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, vùng với việc cấp cứu người dân. UBND quận Nam Từ Liêm chỉ đạo Công an quận thành lập tổ điều tra nguyên nhân sự việc và phối hợp với UBND phường Mỹ Đình kiểm tra hiện trường và khắc phục hậu quả.

Kết quả bước đầu xác định người đi cấp cứu được chẩn đoán là do ngạt khí. Ngày 15/3, tổ điều tra công an quận Nam Từ Liêm đã tiến hành kiểm tra thực tế tại khu vực tầng hầm B1, B2, B3 của Trung tâm thương mại The Garden.

Qua xác minh, năm 2007 UBND huyện Từ Liêm đã cấp xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường cho Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh đối với khu căn hộ cao cấp và trung tâm thương mại The Garden.

Tuy nhiên, quá trình hoạt động của Trung tâm thương mại có dấu hiệu không vận hành thường xuyên hoặc vận hành không đúng quy trình đối với công trình xử lý môi trường theo đúng nội dung cam kết bảo vệ môi trường đã được lập.

Để đảm bảo không để xảy ra tiếp tục các hiện tượng vi phạm, UBND quận Nam Từ Liêm đã thành lập đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường đối với Công ty cổ phần quản lý bất động sản Bình Minh Thăng Long.

Khi có kết quả kiểm tra, quan trắc môi trường UBND quận sẽ báo cáo UBND thành phố Hà Nội và công bố với báo chí.

Thông tin sẽ được chúng tôi tiếp tục phản ánh tới độc giả.
Publisher: Trần Chung - 20:29

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

,

Thực chất của bản cam kết bảo vệ môi trường

Cam kết bảo vệ môi trường là công cụ ra đời từ lâu và được sử dụng lần đầu tiên trong luật bảo vệ môi trường 2005, tuy nhiên mục đích của công cụ này vấn chưa được hiểu rõ, dễ gây hiểu lầm , không đạt được sự thống nhất và chuẩn xác , điều này chắc chắn gây nên nhiều bất cập trong công tác thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường.
Từ lịch sử hình thành…

Khái niệm “Cam kết bảo vệ môi trường” được sử dụng để thay thế cho khái niệm “Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường” vốn được dùng trong thời kỳ đầu thực hiện Luật Bảo vệ Môi trường 1993. Theo các văn bản hướng dẫn dưới Luật Bảo vệ Môi trường 1993, tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện báo cáo đtm, tuy nhiên, với những dự án nhỏ, không phức tạp về môi trường thì chỉ cần thực hiện Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường để làm căn cứ cho việc xem xét và phê duyệt dự án.

Sở dĩ có sự ngoại lệ đối với các dự án nhỏ trong việc không phải thực hiện Đánh giá tác động môi trường mà thay vào đó là Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường là do việc thực thi Luật Bảo vệ Môi trường 1993 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, vì vậy một số thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa so với quy định ban đầu.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường sau một thời gian đã bộc lộ bất cập lớn liên quan đến hệ thống các Tiêu chuẩn môi trường. Hệ thống các Tiêu chuẩn môi trường ở Việt Nam khi đó chỉ có hai loại là Tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và Tiêu chuẩn về chất thải.

Vấn đề nằm ở chỗ trong khi các chủ dự án chỉ phải đăng ký đạt Tiêu chuẩn về chất thải thì tác động của một dự án đến môi trường không chỉ liên quan đến chất thải mà còn liên quan đến nhiều yếu tố khác như: xói mòn, sụt lở đất; sự thay đổi địa hình, dòng chảy, mực nước; sự xâm nhập mặn; sự mất cân bằng sinh thái, mất đa dạng sinh học… Điều đáng nói là tất cả những yếu tố này khi đó lại chưa có các Tiêu chuẩn môi trường tương ứng để xem xét, đánh giá. Vì thế, nhiều dự án không phù hợp để thực hiện Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hay nói cách khác, với những dự án gây ra các tác động dạng này, việc Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hầu như không có ý nghĩa.

Nhằm sửa đổi bất cập nêu trên, trong quá trình xây dựng Luật Bảo vệ Môi trường 2005, công cụ “Cam kết bảo vệ môi trường” đã được lựa chọn để thay thế cho công cụ “Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường”. Theo đó, trong bản Cam kết bảo vệ môi trường, chủ dự án phải cam kết đã nhận dạng và dự báo được hết những tác động do chất thải và do các yếu tố không liên quan đến chất thải, đồng thời cam kết thực hiện việc loại trừ hoặc giảm thiểu tất cả các tác động tiêu cực do dự án gây ra.

Dù khác nhau về tên gọi, song khái niệm “Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường” hay “Cam kết bảo vệ môi trường” thực chất đều là dạng đơn giản của Đánh giá tác động môi trường và đều chỉ áp dụng đối với các dự án chứ không áp dụng với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hiện đang hoạt động.


Cam kết bảo vệ môi trường thực chất chỉ là dạng đơn giản của báo cáo đtm

… Đến những bất cập trong thực thi

Những bất cập trong công tác thực thi pháp luật về Cam kết bảo vệ môi trường xuất phát từ chính việc hiểu sai lệch về bản chất của công cụ này.

Bất cập đầu tiên liên quan đến việc xác định đối tượng phải thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường. Như trên đã nêu, Cam kết bảo vệ môi trường thực chất là dạng đơn giản của báo cáo đtm, vì vậy đối tượng phải thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường phải là một dự án (có quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình), vị trí của Cam kết bảo vệ môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội cũng chính là vị trí của Đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, theo cách viết tại Điều 24 Luật Bảo vệ Môi trường 2005, nhiều tổ chức, cá nhân đã và đang hiểu cam kết bảo vệ môi trường áp dụng cả với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình. Mặt khác, các văn bản quy phạm hiện hành cũng không quy định rõ thế nào là một dự án hay một cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình. Hệ quả là quá nhiều đối tượng phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường một cách không đúng và không cần thiết.

Thứ hai, theo Luật Bảo vệ Môi trường 1993, việc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chỉ được thực hiện ở cấp Trung ương và cấp tỉnh. Tới năm 2005, khi Luật Bảo vệ Môi trường được phê duyệt, cấp huyện mới chính thức được giao trách nhiệm quản lý về bảo vệ môi trường tại địa phương. Điều này cũng có nghĩa là trước và trong khi xây dựng Luật Bảo vệ Môi trường 2005, cấp huyện chưa có trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, do đó cũng chưa có cơ quan chuyên môn trực thuộc để giúp thực hiện trách nhiệm này. Vậy nhưng Luật Bảo vệ Môi trường 2005 đã giao luôn trách nhiệm cho cấp huyện xác nhận (phê duyệt) bản Cam kết bảo vệ môi trường và tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường.

Điều đáng nói là ngay sau thời điểm Luật Bảo vệ Môi trường 2005 được thông qua, cơ quan chuyên môn (Phòng Tài nguyên và Môi trường) giúp việc cho ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực môi trường hầu như chưa có cán bộ chuyên môn phụ trách. Thậm chí, đội ngũ cán bộ về môi trường hiện tại ở cấp huyện cũng còn rất thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Tại không ít nơi, cấp huyện còn chưa có cán bộ được đào tạo chính quy về môi trường nói chung, về Đánh giá tác động môi trường nói riêng. Một số cấp huyện khác tuy có cán bộ được đào tạo về môi trường nhưng chưa hoặc rất ít được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ về Đánh giá tác động môi trường cũng như Cam kết bảo vệ môi trường. Hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường.

Chất lượng phê duyệt cũng bị hạn chế bởi yếu tố về thời gian. Luật Bảo vệ Môi trường 2005 quy định thời gian xem xét và xác nhận (phê duyệt) bản Cam kết bảo vệ môi trường chỉ diễn ra trong 05 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ, trong khi văn bản này là một dạng đơn giản của báo cáo Đánh giá tác động môi trường, vì vậy việc xem xét và xác nhận bản Cam kết bảo vệ môi trường khó có thể hoàn thành trong một thời gian ngắn, nhất là với một năng lưc hạn chế. Và giả như ủy ban nhân dân cấp huyện có đủ năng lực cần thiết để xem xét, phê duyệt thì thời hạn 05 ngày cũng khó khả thi do phải trải qua nhiều khâu xử lý khác như: tiếp nhận, chuyển giao, nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra hiện trường dự án, thậm chí nhiều khi phải mời chuyên gia tư vấn hỗ trợ.

Ngoài những điểm bất cập nêu trên, việc thiếu các điều kiện cần thiết để xem xét và xác nhận bản Cam kết bảo vệ môi trường cũng là điều đáng quan ngại. Bởi dù muốn hay không, việc xem xét và xác nhận văn bản này cũng cần phải có những điều kiện tối thiểu như: kinh phí để đi khảo sát hiện trường, thuê chuyên gia tư vấn, mua máy móc, thiết bị… Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có quy định về các định mức kinh phí dạng này nên cấp huyện không có căn cứ để thực hiện.

Một số gợi ý và đề xuất

Cũng do xuất phát từ cách hiểu sai lệch về bản chất của Cam kết bảo vệ môi trường nên thời gian gần đây, một số ý kiến khi góp ý cho Dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi đã đề xuất bỏ hình thức lập bản Cam kết bảo vệ môi trường mà thay vào đó là lập Kế hoạch bảo vệ môi trường. Dự thảo 5 Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi cũng đã hiện thực hóa sự thay đổi này. Tuy nhiên, việc thay thế như vậy hoàn toàn không thỏa đáng bởi tính chất hai phạm trù “Cam kết bảo vệ môi trường” và “Kế hoạch bảo vệ môi trường” rất khác nhau.

Theo Dự thảo số 5, Kế hoạch bảo vệ môi trường được đưa ra nhằm áp dụng đối với tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bất kể trước đó cơ sở này đã thực hiện thủ tục Đánh giá tác động môi trường hay Cam kết bảo vệ môi trường hay chưa. Công cụ này nên được ủng hộ vì một mặt, nó là căn cứ để chủ cơ sở thực hiện công tác bảo vệ môi trường, mặt khác nó là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thanh, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường cũng như kiểm toán môi trường. Tuy nhiên, cần lưu ý xây dựng nội dung Kế hoạch bảo vệ môi trường sao cho rõ ràng, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Đặc biệt, không nên lấy công cụ này để thay thế cho Cam kết bảo vệ môi trường bởi xét về cả vị trí, tính chất, mục đích, hai công cụ hoàn toàn khác nhau.

Xét về vị trí trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, Cam kết bảo vệ môi trường nằm ở giai đoạn dự án, trong khi Kế hoạch bảo vệ môi trường được áp dụng ở giai đoạn hoạt động, vận hành. Về tính chất, Cam kết bảo vệ môi trường là kết quả của quá trình Đánh giá tác động môi trường, tức mang tính dự báo, còn Kế hoạch bảo vệ môi trường là kết quả của việc tính toán thực tế đối với một cơ sở, ở đây không còn yếu tố dự báo nữa. Về mục đích, Cam kết bảo vệ môi trường là căn cứ để quyết định, phê duyệt một dự án hoặc một đề xuất đầu tư, còn Kế hoạch bảo vệ môi trường là căn cứ để quản lý và thực hiện các nội dung về bảo vệ môi trường đối với một cơ sở.

Tuy không nên thay thế nhưng cũng không nên hoàn toàn loại bỏ Cam kết bảo vệ môi trường, bởi việc xóa bỏ công cụ này sẽ làm mất đi một công cụ dự báo hữu ích trong việc xem xét, quyết định một dự án hoặc đề xuất phát triển, tức chúng ta mất đi cách tiếp cận phòng ngừa hữu hiệu trong bảo vệ môi trường. Thêm nữa, việc loại bỏ Cam kết bảo vệ môi trường cũng sẽ làm mất đi cơ hội đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên môn ở các cấp, đặc biệt là cấp xã, huyện về các vấn đề môi trường.

Không thay thế, không bãi bỏ mà nên giữ nguyên. Nhưng để việc thực thi Cam kết bảo vệ môi trường đạt hiệu quả như mong muốn, thiết nghĩ, trước tiên, cần phải nhận thức rõ ràng rằng Cam kết bảo vệ môi trường là một loại hình đơn giản của Đánh giá tác động môi trường (khái niệm này chỉ có ở Việt Nam), được dùng để áp dụng đối với một dự án hoặc một đề xuất về đầu tư quy mô nhỏ và là một công cụ phòng ngừa hữu hiệu trong bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, cần thay đổi việc phân cấp trong xác nhận (phê duyệt) bản Cam kết bảo vệ môi trường. Trước mắt, khi cấp huyện và cấp xã chưa có đủ năng lực cần thiết thì việc xem xét và xác nhận bản Cam kết bảo vệ môi trường nên được thực hiện tại cả bốn cấp: cấp Trung ương (Bộ Tài nguyên và Môi trường) sẽ thực hiện phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những dự án (quy mô nhỏ) có địa điểm thuộc quyền quản lý từ hai cấp tỉnh trở lên; cấp tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi trường) phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những dự án có địa điểm thuộc quyền quản lý từ hai cấp huyện trở lên; cấp huyện (Phòng Tài nguyên và Môi trường) phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những dự án có địa điểm thuộc quyền quản lý của một cấp huyện, những đề xuất đầu tư quy mô hộ gia đình có địa điểm thuộc quyền quản lý từ hai cấp xã trở lên; cấp xã phê duyệt bản Cam kết bảo vệ môi trường của những đề xuất đầu tư quy mô hộ gia đình có địa điểm thuộc quyền quản lý của 01 cấp xã.

Song song với đó, cần đẩy mạnh việc xây dựng và tăng cường năng lực cũng như tạo các điều kiện cần thiết về quản lý môi trường cho cả bốn cấp, đặc biệt là cấp huyện và cấp xã.

Đặc biệt, để thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế nhưng vẫn đảm bảo được tính đặc thù của Việt Nam, đồng thời tránh những hiểu lầm sai lệch về bản chất của Cam kết bảo vệ môi trường, nên thay cụm từ “Bản Cam kết bảo vệ môi trường” bằng Bản giải trình tác động môi trường (áp dụng đối với những dự án không thuộc đối tượng phải Đánh giá tác động môi trường, có thể nâng cấp quy mô dự án lớn hơn quy mô phải thực hiện Cam kết bảo vệ môi trường như hiện tại) và Bản kê khai tác động môi trường (đơn giản hơn Bản giải trình tác động môi trường, áp dụng đối với những để xuất về đầu tư quy mô hộ gia đình có gây tác động đến môi trường) nhưng cần quy định rõ: Thế nào là một đề xuất đầu tư quy mô hộ gia đình?

Có thể “khoác” lên mình nhiều khái niệm qua mỗi một thời kỳ, giai đoạn, song dù là Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường (trước đây) hay Cam kết bảo vệ môi trường (hiện tại) hay bản Giải trình tác động môi trường và bản Kê khai tác động môi trường (theo đề xuất) thì tất cả đều là dạng đơn giản của báo cáo Đánh giá tác động môi trường.
Publisher: Trần Chung - 01:43